Ưu tiên diều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc cho một số nhà băng

Thông tin về việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chuẩn bị giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đang lan truyền khá nhanh. Tuy nhiên, cần phải hiểu rõ rằng NHNN không phải giảm mà chỉ đơn thuần điều chỉnh cho một số ngân hàng đủ điều kiện, theo như Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng ngày 20 tháng 11 năm 2017 đã quy định.
[​IMG]

Dự trữ bắt buộc là gì?
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là lượng tiền mà các tổ chức tín dụng (TCTD) phải gửi và duy trì tại NHNN theo một tỷ lệ nhất định trên số dư tiền gửi bình quân, nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động cũng như thanh khoản. Theo Quyết định 750 ban hành từ hồi tháng 4/2011, tức đã cách đây 9 năm, thì tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi VNĐ không kỳ hạn và dưới 12 tháng đã giảm từ 4% xuống 3%, kỳ hạn từ 12 tháng trở lên từ 2% xuống 1%.

Đối với tiền gửi ngoại tệ, tỷ lệ dự trữ bắt buộc được áp các tỷ lệ cao hơn, với 8% dưới 12 tháng và 6% từ 12 tháng trở lên. Các ngân hàng theo đó phải tuân theo tỷ lệ này, nếu không sẽ bị xử phạt có thể theo nhiều hình thức khác nhau. Lượng tiền gửi dự trữ bắt buộc này hiện cũng được NHNN trả lãi suất là 1,2%.

Cũng cần biết rằng bên cạnh lãi suất, tăng trưởng tín dụng, dự trữ bắt buộc là một trong những công cụ quan trọng và có sức tác động mạnh mẽ đến hoạt động các ngân hàng cũng như điều hành chính sách. Khi tỷ lệ dự trữ bắt buộc thay đổi, các ngân hàng sẽ phải cân đo đong đếm lại các tỷ lệ thanh khoản, cho vay, huy động để đáp ứng, từ đó cũng ảnh hưởng lớn đến các hệ số sinh lời. Chính vì vậy, nhà điều hành thường rất thận trọng khi sử dụng công cụ này.

Chỉ đơn thuần hợp pháp hóa điều khoản luật đã quy định
Một số thông tin cho rằng NHNN chuẩn bị giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc sau gần 1 thập kỷ là chưa rõ ràng và có thể gây hiểu lầm. Thực tế là mới đây NHNN đã ban hành dự thảo thông tư quy định về thực hiện dự trữ bắt buộc của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, theo đó có điều chỉnh lại đối tượng áp dụng, chứ không nói gì đến việc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc.

Cụ thể ở điều 2 đối tượng áp dụng, các quy định về tỷ lệ dự trữ bắt buộc loại trừ các đối tượng sau:

1. Tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt sau khi có văn bản gửi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi là Ngân hàng Nhà nước) theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Thông tư này để thông báo việc không thực hiện dự trữ bắt buộc theo quy định khoản 3 Điều 146đ Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 17/2017/QH14.

2. Tổ chức tín dụng chưa khai trương hoạt động.

3. Tổ chức tín dụng có quyết định thanh lý tài sản, hoặc giải thể, hoặc chấm dứt hoạt động hoặc thu hồi giấy phép hoạt động của cấp có thẩm quyền.

Theo đó các tổ chức trên không cần phải duy trì dự trữ bắt buộc tại NHNN, quy định điều chỉnh này nhằm hợp thức hóa khoản 3 điều 146đ của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng ngày 20 tháng 11 năm 2017, theo đó Tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt không phải thực hiện dự trữ bắt buộc.




NHNN chỉ đơn thuần điều chỉnh, bổ sung đối tượng được miễn và giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Trên cơ sở đó, dự thảo thông tư cũng chính thức hóa bằng quy định Tổ chức tín dụng hỗ trợ quy định tại khoản 40 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 17/2017/QH14 được giảm 50% tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tất cả các loại tiền gửi theo phương án phục hồi đã được phê duyệt theo quy định tại khoản 7 Điều 148đ Luật này.Ngoài ra, dự thảo thông tư mới cũng bổ sung thêm đối tượng được giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc nếu đủ điều kiện. Cụ thể, theo khoản 7 điều 148đ của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng, thì TCTD hỗ trợ ngân hàng tái cơ cấu được vay tái cấp vốn với lãi suất ưu đãi đến mức 0%, được giảm 50% tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo phương án phục hồi đã được phê duyệt.

Như vậy, có thể thấy NHNN không hoàn toàn nhắc gì đến việc giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo quy định hiện nay là 3% và 1% đối với tiền đồng; 8% và 6% đối với ngoại tệ, mà chỉ đơn thuần hợp thức hóa quy định các đối tượng được phép miễn dự trữ bắt buộc hoặc được phép áp dụng tỷ lệ thấp hơn nếu thỏa điều kiện theo Luật đã ban hành hồi năm 2017. Do đó, nếu được thông qua thì chỉ một số ít nhà băng bị tác động chứ không phải toàn hệ thống, do đó sức ảnh hưởng cũng chỉ ở mức tương đối.




Sau gần thập kỷ, Việt Nam tính giảm dự trữ bắt buộc cho lượng tiền lớn

 Mức giảm dự kiến khá mạnh, áp dụng cho một lượng lớn tiền gửi tại một số ngân hàng thương mại...

Ngân hàng Nhà nước dự kiến sẽ điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc, trên cơ sở quy định đã được Luật các tổ chức tín dụng (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xác định.

Hướng điều chỉnh dự kiến giảm khá mạnh cho một số trường hợp có lượng tiền gửi lớn, cùng một số trường hợp được loại trừ.

Theo đó, đây dự kiến là lần đầu tiên sau gần 9 năm Việt Nam thực hiện giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Công cụ này theo đó sẽ có tác động mới sau một thời gian dài gần như không thay đổi.

Cụ thể, theo Quyết định 750 hồi tháng 4/2011, Ngân hàng Nhà nước giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc cho các tổ chức tín dụng, tiền gửi VND không kỳ hạn và dưới 12 tháng từ 4% xuống 3%, kỳ hạn từ 12 tháng trở lên từ 2% xuống 1%.

Các mức quy định trên áp dụng cho đến nay, ngoại trừ lần điều chỉnh riêng đối với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) trong năm 2018.

Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là lượng tiền các tổ chức tín dụng phải gửi và duy trì ở Ngân hàng Nhà nước trong từng thời kỳ. Với tỷ lệ trên, cứ có 100 đồng tiền gửi, như loại không kỳ hạn và dưới 12 tháng, các tổ chức tín dụng phải để lại 3 đồng tại Ngân hàng Nhà nước chứ không được dùng kinh doanh cả 100 đồng.

Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi ngoại tệ hiện áp các tỷ lệ cao hơn, tương ứng phân loại trên là 8% và 6% (riêng Agribank được áp thấp hơn 1% các loại).

Trong điều hành chính sách tiền tệ, tùy thuộc vào tình hình thanh khoản hệ thống, lạm phát, lãi suất…, dự trữ bắt buộc là công cụ có sức nặng và độ phủ lớn, thường tác động nhanh đến hệ thống và thị trường để nhà điều hành có thể đạt được mục tiêu điều tiết.

Tuy nhiên, cũng vì sức nặng của nó (trong giai đoạn 2008 - 2010, từng có quan điểm xem đây là "biện pháp bạo lực" đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng khi tăng lên để chống lạm phát với những tranh luận khác nhau) nên dự trữ bắt buộc thường được cân nhắc thận trọng mỗi khi điều chỉnh. Nó cũng giải thích vì sao sau gần một thập kỷ Việt Nam mới tính toán điều chỉnh.

Hướng điều chỉnh, như trên, đã được quy định trong Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi, bổ sung năm 2017, gắn với quá trình tái cơ cấu hệ thống.

Theo đó, Ngân hàng Nhà nước dự kiến điều chỉnh theo hướng: về đối tượng sẽ không áp dụng quy định về dự trữ bắt buộc cho một số đối tượng, gồm tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt; tổ chức tín dụng chưa khai trương hoạt động; tổ chức tín dụng có quyết định thanh lý tài sản, hoặc giải thể, hoặc chấm dứt hoạt động hoặc thu hồi giấy phép hoạt động của cấp có thẩm quyền.

Nhóm đối tượng trên hiện có Ngân hàng Đông Á (sau khi đặt vào diện kiểm soát đặc biệt từ năm 2015 và tiến hành tái cơ cấu), ba ngân hàng thương mại mà Ngân hàng Nhà nước mua lại giá 0 đồng.

Nhóm đối tượng này cũng được dẫn chiếu đến nhóm các ngân hàng thương mại khác được giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc trong chính sách dự kiến ban hành. Đó là những trường hợp tham gia hỗ trợ tái cơ cấu hệ thống.

Cụ thể, đối tượng được giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, trên cơ sở quy định tại Luật số 17/2017/QH14, tổ chức tín dụng hỗ trợ sẽ được giảm 50% tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tất cả các loại tiền gửi theo phương án phục hồi đã được phê duyệt.

Ở quy định này, tổ chức tín dụng hỗ trợ là tổ chức tín dụng được chỉ định tham gia quản trị, kiểm soát, điều hành, hỗ trợ tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt.

Chiếu theo quy định trên, trong những năm qua Ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank), Ngân hàng Công thương (VietinBank), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV) đã lần lượt tham gia hỗ trợ tái cơ cấu tại DongA Bank, CB Bank, Ocean Bank và GP Bank, qua hỗ trợ thanh khoản, cử nhân sự quả trị điều hành, hợp tác kinh doanh… ngay khi các tổ chức này thực hiện tái cơ cấu bắt buộc.

Tuy nhiên, việc xác định cụ thể sẽ chờ chính sách từ Ngân hàng Nhà nước.
Bước đầu, với gợi mở từ định hướng trên, dù số lượng thành viên được miễn và giảm tỷ lệ dữ trữ bắt buộc không nhiều, nhưng phạm vi lượng tiền gửi dự kiến sẽ là một bộ phận lớn, do những thành viên nói trên (nếu cả Vietcombank, VietinBank và BIDV cùng được giảm) đang chiếm thị phần huy động lớn trong hệ thống.

Theo đó, hướng điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc lần này dự kiến sẽ có tác động lớn tới thị trường, nhất là sau khi lãi suất huy động VND có xu hướng lên cao trong năm 2018, cũng như có giá trị kích thích quá trình hồi phục tại những trường hợp đang kiểm soát đặc biệt.






Comments

Popular posts from this blog

Tư vấn: Vị trí RM tại Shinhan Bank

Gian nan lựa chọn tư vấn Bảo hiểm Nhân thọ

Chương trình dào tạo hợp tác giữa ATTF và NHNN hỗ trợ tăng cường năng lực cho hệ thống ngân hàng Việt Nam